Cập nhật mới về dự phòng sinh non
Cập nhật mới về dự phòng sinh non
BS. Lê Văn Thành
Progesterone âm đạo giúp giảm nguy cơ sinh non và cải thiện kết cục chu sinh ở thai phụ mang đơn thai có cổ tử cung ngắn trong tam cá nguyệt II
Sinh non là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh suất và tử vong ở trẻ sơ sinh. Trong đó, phụ nữ mang đơn thai có chiều dài cổ tử cung (CTC) ≤25 mm trong tam cá nguyệt II được xác định là nhóm nguy cơ cao sinh non. Progesterone đặt âm đạo đã được nghiên cứu như một phương pháp can thiệp nhằm làm giảm nguy cơ này, tuy nhiên dữ liệu trước đây vẫn còn gây tranh cãi do có nghiên cứu bị rút lại. Tổng quan hệ thống dữ liệu cá nhân (IPD-MA) cập nhật năm 2025, công bố trên American Journal of Obstetrics and Gynecology, đã được thực hiện nhằm đánh giá lại hiệu quả của progesterone trong nhóm đối tượng nói trên.
Phân tích bao gồm dữ liệu từ 4 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên (RCT) đạt tiêu chuẩn, với tổng cộng 966 phụ nữ mang đơn thai có CTC ≤25 mm đo qua siêu âm ngả âm đạo trong quý II thai kỳ. Trong đó, 494 người được điều trị bằng progesterone đặt âm đạo và 472 người dùng giả dược. Nghiên cứu đã loại trừ dữ liệu từ nghiên cứu bị rút lại của Cetingoz et al., tuy chỉ ảnh hưởng không đáng kể đến kết quả do số lượng bệnh nhân nhỏ.
Kết quả cho thấy progesterone âm đạo giúp giảm đáng kể nguy cơ sinh non <33 tuần với tỷ lệ nguy cơ (RR) là 0.63 (KTC 95%: 0,48–0,82). Hiệu quả này cũng được ghi nhận ở các mốc tuổi thai khác như <36, <35, <34, <32 và <30 tuần. Ngoài ra, progesterone còn giúp giảm tỷ lệ mắc hội chứng suy hô hấp (RDS), trẻ sinh ra nhẹ cân <1500g và nhập khoa hồi sức sơ sinh (NICU). Chỉ số Fragility Index của kết quả sinh non <33 tuần là 15, cho thấy kết quả có độ vững tương đối.
Phân tích phân nhóm không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hiệu quả giữa các nhóm có hoặc không có tiền sử sinh non, giữa các liều progesterone khác nhau, cũng như giữa các chủng tộc hoặc khu vực địa lý. Khi phân tích theo chiều dài cổ tử cung, hiệu quả rõ rệt nhất được ghi nhận ở nhóm 10–20 mm, trong khi không có hiệu quả rõ rệt ở nhóm <10 mm.
Từ những kết quả này, nghiên cứu kết luận rằng progesterone đặt âm đạo là một phương pháp hiệu quả trong phòng ngừa sinh non và cải thiện các kết cục chu sinh ở phụ nữ mang đơn thai có cổ tử cung ngắn trong quý II. Phương pháp này có độ an toàn cao, không ghi nhận biến cố nghiêm trọng liên quan đến điều trị, và nên tiếp tục được khuyến cáo sử dụng trong thực hành lâm sàng.
Bằng chứng thực nghiệm cho thấy khâu cổ tử cung ngừa nhiễm trùng ối ngược dòng
Một nghiên cứu thực nghiệm vừa công bố trên tạp chí tạp chí hàng đầu về Sản Phụ khoa thế giới American Journal of Obstetrics and Gynecology, đưa ra giả thuyết, khâu cổ tử cung (CTC) là một phương pháp phổ biến để dự phòng sinh non, nhưng cơ chế tác động vẫn chưa được hiểu rõ (2). Một nghiên cứu mới được thực hiện trên chuột mang thai bởi nhóm tác giả Zhang và cộng sự 2024(3), cho thấy khâu CTC có khả năng ngăn ngừa nhiễm trùng ối ngược dòng – một yếu tố quan trọng gây sinh non.
Trong nghiên cứu, chuột mang thai được khâu CTC ngả bụng vào ngày thứ 10 của thai kỳ (chu kỳ mang thai ở chuột là 18,5 ngày). Sau đó, chúng được cấy vi khuẩn E. coli có gắn đồng vị phát huỳnh quang vào âm đạo vào ngày thứ 15 để theo dõi đường lây nhiễm lên tử cung và bánh nhau. Ở nhóm không khâu CTC, tín hiệu huỳnh quang mạnh được ghi nhận ở tử cung, bánh nhau và màng ối, chứng tỏ có nhiễm trùng ngược dòng. Ngược lại, ở nhóm có khâu CTC, không phát hiện tín hiệu huỳnh quang ở các cấu trúc trên sau 24 giờ, cho thấy khâu CTC đã ngăn chặn nhiễm trùng ngược dòng vào buồng ối.
Ngoài ra, khi sử dụng chủng E. coli bệnh lý để gây nhiễm trùng ối, nhóm nghiên cứu đo được sự tăng mạnh của các cytokine viêm (IL-1β, TNF-α, IL-6, CXCL1, CXCL2…) ở nhóm không khâu CTC. Tuy nhiên, ở nhóm có khâu, nồng độ các cytokine này giảm rõ rệt và tương đương nhóm chứng, cho thấy khâu CTC cũng có tác dụng ngăn chặn phản ứng viêm.
Đây là bằng chứng thực nghiệm đầu tiên cho thấy khâu CTC có thể phục hồi hoặc duy trì chức năng hàng rào của CTC, ngăn vi khuẩn từ âm đạo xâm nhập vào buồng ối. Đây có thể là một cơ chế sinh học quan trọng bổ sung cho giả thuyết trước đây chỉ dựa trên yếu tố cơ học (duy trì độ dài CTC).
Trong bối cảnh lâm sàng, khâu CTC được chỉ định theo ba nhóm chính: (1) theo tiền căn (sẩy thai to/sinh non), (2) theo khám lâm sàng (CTC hở không đau), và (3) theo siêu âm (CTC ngắn). Nghiên cứu này mô phỏng gần nhất với nhóm khâu CTC dựa vào tiền căn. Tuy nhiên, cần thận trọng khi ngoại suy từ chuột sang người.
Tỉ lệ nhiễm trùng ối và viêm buồng ối ở các trường hợp hở CTC có thể rất cao (tới 50% và 80%). Ở những thai phụ được khâu CTC dựa trên khám lâm sàng hoặc siêu âm, thai phụ có tiền căn sinh non có hệ vi sinh và môi trường miễn dịch vùng CTC – âm đạo khác biệt rõ so với nhóm sinh đủ tháng. Trong một nhóm nhỏ bệnh nhân hở cổ tử cung kèm viêm buồng ối, điều trị bằng kháng sinh (ceftriaxone, clarithromycin, metronidazole) đã giúp giải quyết tình trạng viêm và ngừa sinh non ở khoảng 60% trường hợp.
Do đó, nếu khâu CTC có thể ngăn được nhiễm trùng và viêm – như kết quả trên chuột – thì việc tối ưu hóa thời điểm và kỹ thuật khâu có thể cải thiện đáng kể hiệu quả lâm sàng. Cần thêm các nghiên cứu trên cả mô hình chuột và người để xác định rõ cơ chế bảo vệ của khâu CTC, từ đó cá nhân hóa chỉ định và kỹ thuật cho từng đối tượng nguy cơ sinh non.
Tài liệu tham khảo
- R Romero, Conde-Agudelo A, da Fonseca E, O’Brien JM, Creasy GW, Hassan SS, et al. Vaginal progesterone reduces the risk of preterm birth and adverse perinatal outcomes in singleton gestations with a midtrimester sonographic short cervix (≤25 mm): an updated individual patient data meta-analysis. American journal of obstetrics and gynecology. 2025;233(1):e1-e5.
- S Parry. Experimental evidence that cervical cerclage prevents ascending intra-amniotic infection. American journal of obstetrics and gynecology. 2025;233(1):1-3.
- Y Zhang, Edwards SA, House M. Cerclage prevents ascending intrauterine infection in pregnant mice. American journal of obstetrics and gynecology. 2024;230(5):555.e1-.e8.
Để lại thông tin tư vấn
Bạn đang quan tâm đến: Cập nhật mới về dự phòng sinh non ?php>
